Vườn nhỏ nắng lên, trước cau sau chuối, gió khẽ động mấy bụi tre khóm trúc. Giáo sư, tiến sĩ nhạc học Trần Văn Khê ở đó, đang diễn tấu sinh động một khúc ca trù mới do ông ngẫu hứng sáng tác cách đây hai năm, khi nhìn một thiếu nữ đẹp đang so dây nắn phím. Hai tay thay phiên vỗ lên hai chân đánh giả trống và múa nhịp, còn miệng ca luyến láy theo cung bậc tính tinh tang tùng tính tinh tang.

Trời đất muôn năm không già. Và ngọn lửa Trần Văn Khê vẫn hừng hực đỏ trong buổi canh tàn khuya nhặt của nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Vâng, gạt bỏ các danh hiệu, bằng cấp, địa vị, huân chương, giải thưởng, chỉ còn đó một trái tim nhiệt thành với âm nhạc… dù ông đã đã đi qua hết phần đầu của chu kỳ thứ hai (1) của một đời người…

Đi và đã trở về, về trong niềm vui gặp lại quê nhà, sống giữa vòng tay bạn bè và học trò, được nói tiếng Việt, được tha hồ hát dân ca, ca trù, quan họ, điệu lý, hò vè trong niềm đồng cảm và chia sẻ. Hơn 50 năm xa xứ, tôi vẫn mang quốc tịch Việt Nam, không Pháp, không Canada, dù là hội viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế và… Giáo sư lại mỉm cười, vẫn nói và viết tiếng Việt rất chuẩn bên cạnh các ngôn ngữ Pháp, Anh, Đức…

Đời, thác ghềnh lên xuống và cuộc nhân sinh lắm nỗi nhọc nhằn. Giáo sư Trần Văn Khê cũng không là ngoại lệ. Chim không hót, hoa không cười, người không hy vọng… Bốn tường vôi trắng xóa một màu tang… Đó không phải là thơ, nhưng là ý nghĩ của ông đóng đinh lên bốn bức tường bệnh viện. Ba năm hai tháng (2) bị nhốt trong vòng vây bệnh tật và những cơn đau đã khiến ông thấm đủ mùi vị yếm thế…

Nhưng cùng tắc biến, biến tất thông. Trên bờ miệng vực chênh vênh của nghi hoặc và niềm tuyệt vọng, âm nhạc, như vẻ đẹp cứu rỗi đã giải phóng ông. Chính ở đây, ông cũng nhận thức ra mình đã lạc lầm khi chạy theo tiếng kèn đồng, cung bậc thang âm điệu thức nhạc Tây phương trong thời kỳ hoạt động chung với Lưu Hữu Phước và chỉ huy dàn nhạc trường đại học ở Hà Nội. Tiếng sáo, tiếng tiêu, tiếng đàn tranh buổi đầu nằm nôi lúc này trỗi dậy trong ông nên ông đã quyết định chuẩn bị học nhạc học cổ truyền. Đọc, ghi chép, nghiên cứu, mặc kệ cơn đau giày vò… Mình phải là mình trước đã, chứ không thể là Tây hay Mỹ…

Ra khỏi viện, một lần nữa, định mệnh xô ông vào lạc lầm khi được mời tham gia đóng phim “Sur le Pont de la Rivìere Kwai” (Trên cầu bắc ngang sông Hoài) chung với tài tử gạo cội Humphrey Boggart và được trả thù lao rất cao. Nếu Humphrey Boggart không mất sớm khi chưa kịp hoàn thành vai diễn, có thể tôi đã theo nghiệp phim ảnh thay vì trở thành người nghiên cứu âm nhạc. Giáo sư lại mỉm cười rạng rỡ và tôi tin đó cũng là nụ cười của ông tiến sĩ tân khoa nhạc học Đại học Sorbonne năm 1958. Cầm tấm bằng trong tay, nghề nghiệp đã định, đường đi đã ổn, không phải chạy vạy cơm áo khốn khó, ông đã băng băng về phía trước, chuyên chú nghiên cứu và trình bày âm nhạc cổ truyền của Việt Nam ra thế giới cho đến hôm nay…

Cuộc sống vốn là những ngẫu nhiên, những ngẫu nhiên được an bài. Số phận một con người không phải khi nào cũng nằm trong dự kiến dự định của chính anh ta. Giáo sư lại chia sẻ. Năm 1975, tôi đã từ chối không nhận lời mời của Trường Đại học Ottawa, từ chối cả quốc tịch Canada. Nhờ vậy, trước sau vẫn là người Việt nên năm 1976, tôi mới được Hội Nhạc sĩ Việt Nam mời về nước gặp gỡ các bạn đồng nghiệp và nghiên cứu thêm về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Không thể nghiên cứu âm nhạc dân tộc mà ở ngoài cái nôi của đất nước. Xa quê, xa nhà nhưng tâm hồn tôi vẫn chìm đắm trong mênh mang điệu lý câu hò và niềm vui lớn hôm nay là được thực sự sống trên đất nước mình để không phải thèm được nói tiếng Việt…

Tôi ngồi nghe giáo sư nói chuyện. Ngoài vườn, bóng chim vừa khẽ động, cánh chao nghiêng. Lửa vẫn cháy từ trong căn nhà nhỏ số 32 Huỳnh Đình Hai, Q. Bình Thạnh, TP.HCM, mà chính quyền thành phố cấp cho ông khi ông quyết định về sống tại quê nhà. Hỏi chuyện gia đình, giáo sư cho biết có hai trai hai gái, ba người đang sống tại Pháp, một sống ở Việt Nam. Mình tôi ở trong căn nhà này, cô đơn nhưng không cô độc. Lửa vẫn rực lên trong đáy mắt giáo sư. Ông đưa tay chỉ cái máy tính, những kỷ vật gồm băng, đĩa, bài báo…; chỉ cây đàn, ống sáo và mỉm cười… Tất cả mua vui cho tôi cùng với những bạn bè cũ mới và học trò. Ông lại kể chuyện mình thân hành đến dạy cho một lớp thể nghiệm gồm có 20 em chọn lọc trong số học sinh Trường Tiểu học Trần Hưng Đạo (Q.1, TP.HCM). Tôi đã dạy chúng sáng tác ca dao và hát đồng dao. Vâng, vị giáo sư từng đứng trên bục các giảng đường quốc tế lại mày mò tìm phương pháp mới để dạy thiếu nhi Việt Nam yêu tiếng nói lời ca của dân tộc. Lửa vẫn cháy và ngọn chưa bao giờ tàn lụi…

* Đi và nghiên cứu âm nhạc nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là nhạc của châu Á, giáo sư nhận thấy âm nhạc dân tộc như thế nào trong dòng chảy của âm nhạc quốc tế?

– Chúng ta có quyền tự hào vì nhạc Việt có khác hơn nhưng không hề thua âm nhạc các nước. Cái khác căn bản là cao độ. Âm giai của các dân tộc khác là cố định còn cao độ của chúng ta trong “hò xừ xang xê cống” thì có non, có già. Chính cái non, già này làm âm nhạc Việt Nam linh động, biến hóa vô lường trên những cung bậc cảm xúc chứ không đóng chết cứng trên nền cao độ. Điểm nữa là âm nhạc Việt mang tính đời, tính triết lý đặc thù. Tiết tấu chen nhau có âm có dương tuần hoàn mà tiến và giao hòa kết hợp. Đờn ca tài tử là một ví dụ. Người ta học thuộc “lòng bản” nhưng không phải đưa một cách nguyên xi mà theo nguyên tắc “học chân phương và đờn hoa lá”. Học thì vuông vắn nhưng khi hành thì phải trổ thêm hoa mọc thêm lá. Phát triển sinh động đúng theo cấu trúc Việt Nam không phải tịnh và đóng mà là động và mở…

* Nhiều ý kiến chê các loại nhạc cụ dân tộc là không thể bằng guitar, violon, piano… của Tây Phương? Giáo sư lý giải thế nào?

– Họ đang mặc cảm tự ti một cách sai lầm vì chưa nhận thức ra rằng trong thời kỳ hội nhập thì người ta tìm kiếm nét đặc thù của mỗi dân tộc, phân biệt và nhận diện Anh, Pháp, Ấn Độ, Trung Hoa… chứ không đề cao việc hơn thua. Hơn nữa, âm nhạc phương Tây, Ấn Độ dù có hay thì chúng ta chỉ học hỏi chứ không thể lấy âm nhạc của họ làm của mình. Việt Nam phải là muôn năm Việt Nam. Cây đàn bầu một dây là một thí dụ hơn hẳn và đặc biệt vì “Một dây nũng nịu đủ lời / Nửa bầu chứa cả một trời âm thanh” (thơ Văn Tiến Lê). Một vài nước trong vùng như Trung Quốc, Nhật, hay châu Phi… cũng có đàn một dây nhưng đàn của họ không thể tạo ra bồi âm như đàn bầu. Loại đàn thứ hai là đàn đáy (đới cầm) gồm ba dây: hàn – trung – tiếu, có tiếng âm tiếng dương, có cung Nam cung Bắc. Cần đàn dài nhất thế giới, nhấc thì bổng, đánh thì trầm.

* Như vậy, theo giáo sư, có thể phát triển nhạc cổ thành mới lạ hơn bằng cách nào?

– Nhạc sĩ sáng tác tân nhạc theo phong cách nhạc cổ truyền thì có nhiều cách thức khác nhau: phát triển câu rao, mở rộng âm vực cho các điệu dùng trong ngâm thơ như “bán xuân bán ai” trong cách ngâm thơ miền Nam, ngâm xổng, sa mạc, bồng mạc theo cách ngâm thơ miền Bắc, ngâm thơ cũng có thể không phải chỉ dùng bằng ấy lối mà sáng tạo tùy theo hơi thơ… Ví dụ: ngâm bài “Nhớ rừng” của Thế Lữ thì có thể bằng giọng hát bội bi hùng mới bộc lộ được giọng điệu bài thơ. Trong cách biểu diễn nhạc khí, áp dụng triệt để nguyên tắc “chân phương, hoa lá” trong nhạc truyền thống và ngẫu hứng trong lúc vận hành giai điệu, v.v.

* Để có thể phát triển nền nhạc dân tộc, chúng ta cần phải thế nào?

– Đây là một câu hỏi quá lớn. Tôi chỉ xin tóm gọn trong mấy điểm cơ bản:

+ Phải xóa bỏ tự ti mặc cảm về nền âm nhạc nước nhà là lạc hậu, phải nhận rõ nét đặc thù không lẫn lộn của mỗi dân tộc chứ không phải là sự so đo hơn thua.

+ Phải đem âm nhạc vào học đường, giáo dục con trẻ từ ngày còn thơ với một phương pháp mới, sách giáo khoa mới, mục tiêu mới. Do vậy là một cải cách triệt để và rộng lớn (dạy cái gì, theo phương pháp nào, ai dạy…).

+ Chính quyền phải thiết thực hỗ trợ: đưa âm nhạc vào chương trình của học đường; tuyên dương và phát huy nhạc cổ truyền trong các dịp lễ hội, đầu tư kinh phí thiết thực cho nghệ sĩ có thể sống với nghề nghiệp và các trường phải đủ phương tiện đào tạo…

 ***

Tôi chia tay giáo sư ra về mà lòng thấy ngậm ngùi. Trời đang ngọ và cơn mưa lướt thướt dầm dề mặt phố, có vẻ cũng thấm ướt cả nền âm nhạc cổ truyền. Nhưng, đằng sau cánh cửa vừa khép lại, ngọn lửa Trần Văn Khê vẫn thắp sáng một niềm tin…

Lê Vũ (thegioimoi.vn)

About data4kid

Vì trẻ em Việt Nam Hôm nay & Ngày mai / For Vietnamese Children Today & Tomorrow ( Mẫu đăng ký nhận tất cả tài liệu từ dự án: http://wp.me/p1Vk8a-12L )

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s