Từ đầu thế kỷ 20, khi các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án (Project method) và coi đây là phương pháp dạy học quan trọng để thực hiện dạy học hướng vào người học nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống.

Ban đầu chỉ được áp dụng giảng dạy môn kỹ thuật ở các trường đại học và cao đẳng, dần dần được sử dụng rộng rãi trong các môn học khác ở trường phổ thông và trở nên phổ biến, nhất là ở các nước phát triển. Chính vì vậy mà cũng có rất nhiều khái niệm khác nhau về phương pháp dạy học theo dự án (PPDHTDA).

Cần mở rộng mô hình dạy học theo dự án ở Việt Nam

Theo các nhà giáo dục Mỹ : Dạy học theo dự án (DHTDA) là quá trình mô phỏng và giải quyết các vấn đề thực tế. Trong đó học sinh tự lựa chọn đề tài và thực hiện các dự án học tập dựa trên sở thích và khả năng của bản  thân.

Các dự án học tập không chỉ giúp các em học tốt bài trên lớp mà còn mở rộng ra ngoài phạm vi lớp học khi các em được phát huy trí thông minh để hoàn thành dự án của mình. 

Theo tổ chức giáo dục Oracle (Mỹ) dạy học theo dự án (project- based leaning- hoặc học dựa trên mô hình dự án) là một phương pháp học tập mang tính xây dựng, trong đó học sinh tự đưa ra sáng kiến và thực hiện xây dựng phiếu hỏi, thu thập thông tin, phân tích dữ liệu và đưa ra những nhận định, kết luận về các vấn đề cụ thể.

Bộ Giáo dục Singapore : Dạy học theo dự án là một hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho học sinh tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập, và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống

Quá trình học theo dự án giúp học sinh củng cố kiến thức và xây dựng các kỹ năng hợp tác, giao tiếp và học tập độc lập, chuẩn bị hành trang cho các em trong sự nghiệp học tập suốt đời và đối mặt với các thử thách trong cuộc sống {7}.

Theo cục Giáo dục Hồng Kông: Dạy học theo dự án là một hoạt động tìm hiểu sâu về 1 chủ đề cụ thể với mục tiêu, tạo cơ hội để học sinh thực hiện nghiên cứu vấn đề thông qua việc kết nối các thông tin, phối hợp nhiều kỹ năng giá trị và thái độ nhằm xây dựng kiến thức và phát triển khả năng và thái độ học tập suốt đời.

Các chủ đề trong học theo dự án chủ yếu liên quan đến việc học và đời sống hàng ngày của học sinh, có thể nằm trong các môn học tích hợp hoặc nằm ngoài chương trình{ 8}.

Theo dự án Việt – Bỉ : Dạy học theo dự án là một chuỗi các hoạt động dựa trên động cơ bên trong của học sinh nhằm khám phá và phát hiện một phần của thực tế (các chuỗi hoạt động thực tế : Thực hiện nghiên cứu; Khám phá các ý tưởng theo sở thích; Tìm hiểu và xây dựng kiến thức; Học liên môn; Giải quyết các vấn đề; Cộng tác với các thành viên trong nhóm; Giao tiếp; Phát triển các kỹ năng, thái độ và sự đam mê.)

Theo Intel (Mỹ) : Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành và đánh giá kết quả. Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được {9}.

Có thể khái quát hai nhóm khái niệm chính về DHTDA hiện nay như sau:

— Khái niệm DHTDA theo nghĩa rộng nhấn mạnh tính tự lực cao của HS. Hoạt động thực hành không được coi là bắt buộc.

— Khái niệm DHTDA theo nghĩa hẹp hơn yêu cầu DHTDA gắn với hoạt động thực hành và có tạo ra các sản phẩm hành động của dự án.

Việc xếp loại DHTDA cũng có nhiều quan niệm khác nhau:

— DHTDA với tư cách một phương pháp dạy học (PPDH) : Khi hiểu DHTDA là một PPDH, có tác giả hiểu đó là một PPDH theo nghĩa hẹp như một PPDH cụ thể, tuy nhiên nhiều tác giả sử dụng khái niệm  phương pháp dự án theo nghĩa rộng, không phải một PPDH cụ thể.

— DHTDA với tư cách một hình thức dạy học: Theo quan niệm này, trong DHTDA có nhiều phương pháp cụ thể khác nhau được sử dụng, do đó đây là một hình thức dạy học.

— DHTDA được hiểu theo nghĩa rộng nhất như một quan điểm, mô hình hay nguyên tắc dạy học: Theo quan điểm này người ta muốn mở rộng phạm vi ứng dụng của DHTDA. Tuy nhiên với quan niệm này dễ có xu hướng sử dụng những dự án không điển hình. Khi đó người ta còn dùng thuật ngữ dạy học định hướng dự án.

1.  Sự phát triển phương pháp dạy học theo dự án ở nước ngoài

Từ cuối thế kỷ XVI, những kiến trúc sư người Ý đã làm chuyên nghiệp xu hướng nghề nghiệp của họ bằng cách thành lập một học viện nghệ thuật – The Accademia di San Luca Rome dưới sự bảo trợ của Giáo hoàng Gregory XIII năm 1577. Cuộc thi đầu tiên của học viện này được tổ chức vào năm 1656. Cấu trúc của các cuộc thi vào học viện tương đương với kỳ thi kiến trúc. Việc thiết kế trong các cuộc thi vào học viện chỉ là những tình huống giả định. Trong các dự án này, sinh viên đư­ợc giao nhiệm vụ thiết kế và gia công một sản phẩm kỹ thuật hoàn thiện một cách tự lực, trong đó cần vận dụng các lý thuyết, kỹ năng học. Vì lý do này chúng được gọi là “dự án” “những dự án với ý định là những bài tập trong tưởng tượng chứ không dùng để xây dựng” (theo Egbert).

Học tập bằng các dự án không còn là duy nhất đối với ngành kiến trúc. Đến cuối thế kỷ XVIII, chuyên ngành cơ khí được thành lập và được coi là một bộ phận của các trường đại học công nghiệp và kỹ thuật mới cũng đã áp dụng DHTDA vào giảng dạy.

Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, n­ước Mỹ phong trào cải cách giáo dục diễn ra mạnh mẽ, trong đó tư tư­ởng giáo dục căn bản của cuộc cải cách này là dạy học, lấy học sinh làm trung tâm, ngày nay còn gọi là dạy học định hướng học sinh. Trong phong trào cải cách đó, DHTDA đ­ược các nhà sư­ phạm Mỹ đưa vào sử dụng trong dạy học phổ thông. Các nhà s­ư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho ph­ương pháp dự án và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống, coi giáo viên làm trung tâm của quá trình dạy học. Ban đầu, phương pháp dạy học dự án được sử dụng chủ yếu trong dạy học thực hành các môn Kỹ thuật. Cùng với sự ứng dụng ngày càng rộng rãi, các dự án dạy học sau đó được sử dụng ở hầu hết các môn học khác, kể cả các môn khoa học xã hội. Những quan điểm triết học giáo dục và lý thuyết nhận thức của J.Dewey đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lý thuyết cho phư­ơng pháp dự án của các nhà sư­ phạm Mỹ đầu thế kỷ 20. Tiêu biểu là nhà Tâm lý học Wiliam H.Klpatric (1871-1965) với bài báo có tiêu đề “Phương pháp dự án”, công bố năm 1918. Bài báo đã gây một tiếng vang lớn trong các cơ sở đào tạo giáo viên (GV) cũng như trong các trường học. Sau đó, ông cùng các nhà nghiên cứu của trường đại học (ĐH) Côlumbia đã đóng góp lớn để truyền bá phương pháp này qua các giờ học, các hội nghị. Vào năm 1925, ông cùng cộng sự cho xuất bản tác phẩm về PPDH này. Đối với Kilpatric, một dự án là một hoạt động có mục đích, có cam kết với tất cả những người thực hiện và diễn ra trong một môi trường xã hội, trong những giải thích mà họ mang lại, quan trọng là tồn tại một mục đích{7}. Ban đầu phương pháp được sử dụng trong dạy học thực hành các môn kỹ thuật, về sau được dùng trong hầu hết các môn học khác, kể cả các môn xã hội. Những quan điểm triết học giáo dục và lý thuyết nhận thức của John Dewey (1859 – 1952) nhà Triết gia, nhà giáo dục học (GDH) nổi tiếng của Mỹ, ông được xem là người đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lý thuyết cho DHTDA của các nhà sư phạm Mỹ đầu thế kỷ XX.

Ở Châu Âu, Celestin Freinet (1896 – 1966) là người tiên phong và có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với DHTDA. Theo ông, lớp học trước hết là một nơi mà ở đó tất cả phải áp dụng các cách làm việc để nghiên cứu các thông tin, trao đổi các ý kiến hoặc trả lời như nhận được từ các lớp HS khác hoặc chuẩn bị các điều kiện ngoài lớp học, phân tích các dữ kiện hoặc trình bày các bài báo tập hợp được…Trong môi trường như thế, sự hợp tác ở bên trong nhóm rất phong phú. Mong muốn của Freinet là tạo nên một cá nhân có đầu óc phát triển tốt hơn là đầu óc được rót đầy kiến thức. Một nguyên tắc của phương pháp này là niềm tin gần như không giới hạn vào quyền lực của giáo dục và khả năng phát triển của người học; sự cần thiết phải chịu trách nhiệm trước xã hội qua những công việc đảm nhận với những người khác; sự chịu trách nhiệm của cá nhân và tập thể bên trong nhóm trong đó mỗi người có một nét riêng.

Trong các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa tr­ước đây, nhìn chung khái niệm DHTDA không đ­ược sử dụng trong phạm trù PPDH, tuy nhiên những tư­ t­ưởng t­ương tự như­ DHTDA có thể tìm thấy trong các mô hình trường học lao động của Nga từ sau cách mạng tháng m­ười 1917, như­ mô hình trường học lao động của Blonxki,  Makarenko. Trong các tr­ường này, học sinh thư­ờng được giao các nhiệm vụ lao động phức hợp và các em cần thực hiện một cách tự lực, sáng tạo {6}

Sau một thời gian gần như bị lãng quên trong những năm trong và sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, từ những năm 1970, cùng với trào lư­u cải cách giáo dục mới ở các n­ước ph­ương Tây, DHTDA đ­ược quan tâm nghiên cứu và sử dụng rộng rãi, pháp triển mạnh mẽ trong phạm vi quốc tế. Sự lan tỏa này đã tạo ra một bước phát triển mới trong PPDH này. Điển hình là những quan điểm về phư­ơng pháp dự án của các nhà sư­ phạm Mỹ đầu thế kỷ 20 đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lý luận của DHTDA. Có thể kể tên đến các công trình nghiên cứu của tác giả R.W.Stímon (1914), Barrows, H.P khoa Nông nghiệp, ĐH Hoa kỳ (1916) đã thực hiện các dự án trong DH về nông nghiệp bằng các “Home project”. Tác giả John Dewey trong công trình “Democracy and Education” (1916); hay một số nhà nghiên cứu khác như W.W Charters (1918) với bài viết “Theo project in home Bconomice Teaching; tác giả W.H Kilpatrick với bài “The project method” (1918); tác giả Jame Leroy Stockton với bài “Project work in Education” (1920); tác giả Stevensm với bài “Project method of teaching” (1921)…tất cả các bài viết trên đều đề cập đến cơ sở lý luận của DHTDA, bản chất khi thực hiện các DHTDA ở nhiều góc độ khác nhau.

DHTDA ngày nay đ­ược ứng dụng trong mọi cấp, từ giáo dục phổ thông, đào tạo nghề cũng nh­ư trong đào tạo đại học, trong các môn học hay ngành học, thậm chí trong cả giáo dục mầm non. Trong đào tạo giáo viên, DHTDA cũng đư­ợc sử dụng rất phổ biến. Tr­ường Đại học Roskilde của  Đan Mạch hiện nay dành trên 50 % quỹ thời gian đào tạo cho DHTDA. Theo mô hình của ĐH Postdam thì DHTDA là một học phần độc lập bên cạnh các học phần khác, trong đó sinh viên phải thực hiện một nhiệm vụ đòi hỏi giải quyết một vấn đề khoa học – thực tiễn gắn với các vấn đề thực tiễn tại các cơ sở kinh tế – kỹ thuật ngoài xã hội. Theo mô hình của ĐH Kỹ thuật Berlin thi DHTDA có trọng tâm là thực hành theo dự án trong xưởng, thuộc lĩnh vực đào tạo chuyên môn. Tỷ lệ quy đổi từ ĐVHT sang tín chỉ đ­ược tính khác nhau giữa các học phần, tuỳ theo mức độ yêu cầu sinh viên sử dụng thời gian tự học. Theo đó các dự án thực hành (như­ trong mô hình của ĐH Kỹ thuật Berlin) có hệ số quy đổi thấp hơn các dự án đòi hỏi tính nghiên cứu (như trong mô hình của ĐH Postdam).

Ngoài ra DHTDA cũng được sử dụng khá phổ biến trong tất cả các cấp học ở các nước Châu Á như Thái Lan, Singgapo, Hồng Kông…các dự án học tập được học sinh thực hiện thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

 

2. Sự phát triển Dạy học theo dự án ở  Việt Nam

Ở Việt Nam, trước đây các đồ án môn học, đồ án tốt nghiệp từ lâu cũng đã được sử dụng trong đào tạo dạy học, đầu tiên là các trư­ờng đại học kỹ thuật. Hiện nay các hình thức bài tập lớn, tiểu luận, khoá luận thực hiện trong các trư­ờng đại học nói chung và trong đào tạo giáo viên rất gần gũi với DHTDA. Trong các hình thức này, SV thực hiện những nhiệm vụ học tập mang tính nghiên cứu một cách tự lực dư­ới sự h­ướng dẫn của giáo viên.

Trong giáo dục phổ thông, trong những năm 1960 – 1980, ở các trường phổ thông lao động cũng có những nhiệm vụ lao động của học sinh gần gũi với DHTDA. Đặc biệt trong những năm 1980, cùng với sự phát triển của phong trào hư­ớng nghiệp, nhiều trư­ờng đã thực hiện các dự án nh­ư dự án trồng cây, dự án phát triển vườn trường. Tuy nhiên cho đến nay, nói chung DHTDA vẫn chư­a được chú ý trong cả lĩnh vực đào tạo phổ thông và đại học, chưa được sử dụng như một PPDH phổ biến. Một số năm gần đây, một số cơ sở đào tạo đã bư­ớc đầu quan tâm đến PPDH này.

Từ một số năm gần đây, với những ưu điểm vượt trội, DHTDA đã đang được sự thu hút của nhiều nhà nghiên cứu và DHTDA được đề cập nhiều hơn trong các tài liệu Tiếng Việt với những tên gọi khác nhau như­: đề án {5}, dạy học theo dự án, phương pháp dự án. Với sự tăng cường hợp tác quốc tế trong những năm gần đây, DHTDA cũng được tăng cường giới thiệu và vận dụng ở Việt Nam. DHTDA đư­ợc đưa vào chương trình lý luận dạy học đại học dành cho các khoá cao học ở ĐHSP Hà Nội, ĐHSP Huế trong chương trình hợp tác quốc tế của dự án phát triển giáo viên THCS {2}, cũng như­ được đưa vào chư­ơng trình hội thảo tập huấn của dự án phát triển THPT. Trong những năm gần đây, các ch­ương trình bồi dư­ỡng giáo viên về ứng dụng công nghệ thông tin của các tập đoàn máy tính như  Intel, Microsoft đóng vai trò đáng kể trong việc truyền bá, việc sử dụng PPDH ở Việt Nam. Chư­ơng trình dạy học cho tư­ơng lai của Intel (Intel Teach to the Future) {3} và chương trình “Đ­a kỹ năng công nghệ thông tin (ICT) vào dạy và học” (Partners in learning) đề ra mục đích chính là giúp cho các GV biết cách sử dụng công nghệ máy tính để phát triển trí t­ưởng t­ượng của học sinh và cuối cùng là dẫn dắt các em tới một ph­ương pháp học tập hiệu quả hơn dựa trên nền tảng của phương pháp dạy học theo dự án. Năm 2007, tập huấn ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học (ICT in Education) do Unessco tổ chức với cùng mục tiêu trên lấy nền tảng sử dụng nguồn t­ư liệu Internet nhằm tổ chức các dự án học tập cho người học {4}.

Trong lĩnh vực giáo dục phổ thông, cùng với việc thực hiện các dự án phát triển giáo dục, dự án giáo dục môi trường, DHTDA cũng bước đầu được áp dụng trong một số môn học. Từ năm 2006 trở lại đây, rất nhiều giáo viên các bậc học, nghiên cứu sinh, sinh viên của các trường đại học, cao đẳng trên cả nước quan tâm nghiên cứu và vận dụng DHTDA vào giảng dạy.

 

3. Triển khai phương pháp dạy học theo dự án vào Việt Nam

Việc đưa phương pháp dạy học thei dự án vào trong chương trình dạy học không phải là ý tưởng mới lạ hay mang tính cách mạng trong giáo dục. Tuy nhiên, trong những năm gần đây việc triển khai dự án trong thực tế đã được phát triển chính thức thành một chiến lược dạy học ở nhiều trường.

 

3.1. Chương trình dạy học của Intel

Trong một thập kỷ qua, Chương trình Dạy học của Intel đã giúp các giáo viên khối phổ thông trở thành những nhà sư phạm hiệu quả thông qua việc hướng dẫn cho họ cách thức đưa công nghệ vào bài học, cũng như thúc đẩy kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy phê phán và kỹ năng hợp tác đối với học sinh. Đến nay, Chương trình đã tập huấn cho hơn 5 triệu giáo viên ở trên 40 quốc gia và đang hướng tới con số 13 triệu giáo viên vào năm 2011.

Việt Nam là 1 trong 2 nước đầu tiên trên thế giới giới thiệu Khóa học Khởi đầu. Tháng 11, công ty Intel đã ký kết với Bộ Giáo dục Đào tạo Bản thỏa thuận thí điểm chương trình trong năm học 2006-2007. Trên cơ sở đánh giá tác động và thực tế triển khai chương trình, công ty Intel và Bộ Giáo dục Đào tạo sẽ xem xét việc tiếp tục triển khai chương trình trong những năm tiếp theo.

Chương trình Dạy học của Intel được bắt đầu áp dụng thí điểm cho khối phổ thông vào năm 2004. Mục tiêu của Chương trình là đào tạo cho các giáo viên phương pháp phát huy việc học dựa trên dự án và kết hợp có hiệu quả việc sử dụng máy tính với các chương trình dạy học hiện có giúp học sinh đạt được kết quả học tấp tốt hơn. Bên cạnh đó, các giáo viên còn học cách tạo ra các công cụ đánh giá tối ưu cũng như cách cân đối bài giảng với mục tiêu học tập.

Số giáo viên phổ thông tham gia chương trình đã tăng nhanh trong vòng 3 năm qua. Nếu trong năm thí điểm 2004, mới chỉ có 472 giáo viên được đào tạo thì đến năm 2005, khi Bản thoả thuận chính thức giữa Bộ GD & ĐT và công ty Intel được ký kết, 2139 giáo viên từ 10 tỉnh, thành phố trên cả nước đã tham gia chương trình. Trong năm 2006, chương trình đã bồi dưỡng cho hơn 6000 giáo viên của 17 tỉnh, thành phố. Ngoài các thành phố lớn đã tham gia chương trình ngay từ những năm đầu như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế, năm nay lần đầu tiên một tỉnh miền núi là Lâm Đồng bắt đầu tham gia.

 

3.2. Chương trình dạy học theo dự án của Việt Bỉ

Từ năm 1997 đến nay, chính phủ Vương quốc Bỉ với 2 Dự án hỗ trợ cho các tỉnh miền núi phía Bắc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học  theo định hướng áp dụng phương pháp dạy và học tích cực (PPD-HTC). Dự án Việt Bỉ I đã đầu tư cho 7 tỉnh từ năm 1999 đến 2003 và Dự án Việt Bỉ II đang đầu tư cho 14 tỉnh từ năm 2005 đến 2009.

Mục tiêu của Dự án là: “Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Tiểu học, Trung học cơ sở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam” gồm các tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên, Quảng Ninh, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Yên Bái, Phú Thọ, Hoà Bình và Lai Châu. Đối tượng hưởng lợi của Dự án tập trung vào các trường CĐSP và trường thực hành sư phạm ( SP) Tiểu học, THCS.

Để mở rộng, nâng cao hơn nữa nhận thức, kỹ năng áp dụng PPD-HTC, trong năm học 2008 – 2009 Dự án đã tập huấn sâu thêm cho các giáo viên về 3 phương pháp dạy học mới với tên gọi: Học theo góc; Học theo hợp đồng; Học theo Dự án cho GV cốt cán, các chuyên gia trong nước và cán bộ quản lý các cấp của địa phương.

Sau khoá tập huấn, GV cốt cán trở về địa phương, tự nghiên cứu, lựa chọn những bài học phù hợp (trong chương trình cao đẳng sư phạm, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở) và thiết kế các hoạt động dạy học áp dụng các PPDH mới. Sau đó, đã tổ chức ghi hình giờ học và đã có hơn 200 giờ học được ghi hình, lưu giữ làm tài liệu. {1}

Tất cả các giờ học ghi hình được đưa ra đánh giá rút kinh nghiệm và lựa chọn một số giờ học tốt, thể hiện rõ đặc trưng của các phương pháp dạy học mới, trong đó có phương pháp dạy học theo dự án để giới thiệu trong khoá tập huấn cho toàn bộ giáo viên của các trường tham gia Dự án. Các phương pháp dạy học này (trong đó có phương pháp dạy học theo dự án) đều chưa có mô hình để tham khảo, nhưng với sự nhiệt tình tích cực, nhiều giáo viên đã có những sáng tạo, bước đầu tạo nên sự đột phá trong đổi mới cách dạy và học.

Có thể thấy rằng DHTDA không phải là một phư­ơng pháp hay hình thức dạy học hoàn toàn mới, nó đã có trên 200 năm hình thành và phát triển, và đã đ­ược xây dựng cơ sở lý luận từ khoảng 100 năm tr­ước. Ngày nay DHTDA đ­ược quan tâm nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt ở các nư­ớc ph­ương Tây. Tuy mới triển khai ứng dụng ở Việt Nam, nhưng phương pháp này đã mang lại những hiệu quả vô cùng thiết thực và được GV, HS tiếp cận một cách hứng thú, là một hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học hiện đại như : định hướng vào người học, định hướng hành động, dạy học giải quyết vấn đề và quan điểm dạy học tích hợp. DHDA góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học.

http://ldxh.vn

Ths. Đinh Thị Tình

Trường CĐSP Lạng Sơn

About data4kid

Vì trẻ em Việt Nam Hôm nay & Ngày mai / For Vietnamese Children Today & Tomorrow ( Mẫu đăng ký nhận tất cả tài liệu từ dự án: http://wp.me/p1Vk8a-12L )

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s